Chương 4 - 30 Tháng Tư, 1975
Chương 4
30 Tháng Tư, 1975
Hà Nội, Việt Nam
Tuyết Hương đạp xe Trung Quốc Phượng Hoàng dọc theo đường xe điện xuống phố Quán Sứ ở Hà Nội. Hôm nay cô xin ra học sớm để về đưa mẹ đi xuống bệnh viện Bạch Mai xếp hàng lãnh thuốc. Trời hôm nay cao xanh với những áng mây trắng. Đường phố Hà Nội tiêu điều, cũ kỹ, và nghèo nàn sau hai mươi năm phân tranh. Thành phố chỉ có toàn xe đạp. Chiếc tàu điện trắng đỏ, rỉ sét từ thời Pháp thuộc chạy chầm chậm, không nhanh gì hơn những chiếc xe đạp chạy chung quanh nó. Thỉnh thoảng, nó lại kéo chuông leng keng mỗi khi đến một ngã tư hay qua một khúc quanh. Đường rầy nhỏ hẹp, chạy cạnh bên lề đường nhựa đổ vỡ, nham nhở, đọng nước và rác rưởi. Trước và sau đuôi tàu chật cứng những trẻ con đi lậu, cười nói, đu lủng lẳng.
Tuyết Hương mặc chiếc quần đen, áo xanh bộ đội, vải thô. Khi cô đạp đến đài phát thanh, bên vỉa hè đường đã có số đông người tụ tập, đứng rải rác. Hầu hết là đàn ông. Không cần đoán, cô cũng biết họ là những công nhân viên và cán bộ nhà nước qua cách ăn mặc của họ: quần tây, áo trắng ngắn tay hoặc đồ bộ đội và nón cối. Rất hiếm khi Tuyết Hương thấy một đám đông người tụ họp như vậy ở Hà Nội.
"Chuyện gì thế ạ?", Tuyết Hương dừng xe bên đường, hỏi người đàn ông đứng gần đó.
Ông nhìn Tuyết Hương, dò xét, rồi trả lời bâng quơ, "Hình như sắp có tin gì quan trọng lắm. Tôi cũng không biết rõ, chỉ đi theo người ta thôi."
Mặc dù là một đám đông nhưng không khí có vẻ nghiêm trọng. Người ta rù rì nói chuyện với nhau và không ai tỏ ra một thái độ háo hức hay ồn ào. Họ có vẻ hồi hộp, tò mò để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Có lẽ sau bao nhiên năm sống ở chế độ Cộng Sản, họ đã thấm nhuần cách sống như thế nào để tồn tại. Không trải lòng, không nói nhiều, không tin ai. Im lặng là vàng.
Chiếc loa lớn treo phía ngoài đài phát thanh oang oang với giọng nói của hai xướng ngôn viên được chọn lựa kỹ lưỡng. Một nam với giọng miền Nam và một nữ giọng miền Bắc. Tuyết Hương không lạ gì với những chiếc loa phường gắn ở mỗi góc phố, góc phường, góc xã, phát thanh liên tục từ sáng đến tối vì chẳng mấy ai có được chiếc máy truyền thanh trong nhà, đừng nói chi đến máy truyền hình. Nghe tin tức không phải là một sự lựa chọn, nhưng là một sự đòi hỏi gián tiếp. Nó phát thanh hằng ngày về những chính sách mới cần phải thi hành, những chiến thắng anh hùng chống Mỹ Ngụy mới nhất, sự sụp đổ, dẫy chết của tư bản, và sự phát triển vượt bậc về kinh tế và quốc phòng của nước cộng sản anh em Liên Xô và Trung Quốc. Chẳng ai quan tâm nhiều về những tin tức nhàm chán đó ngoại trừ một chuyện duy nhất, thật sự có liên quan đến mạng sống của họ: khi nào phải sơ tán về vùng quê để tránh bom.
Tới gần trưa, cô xướng ngôn viên người Bắc, giọng nói hùng hồn như một cái máy,
"Đúng 11h30’ sáng nay, quân ta đã tiến vào đánh chiếm Dinh Độc Lập, Bộ Tổng tham mưu ngụy. Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện. Cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên nóc Dinh Độc Lập. Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng”.
Đám đông ồ lên một tiếng, rồi sau đó là những lời xầm xì, bàn tán, bán tín, bán nghi. Vài nhóm người cười xã giao, gượng gạo với những nhóm người chung quanh như dọ hỏi, kiểm chứng, nhưng chẳng ai có một thái độ gì coi nó như là một giây phút hệ trọng, lịch sử. Từ trên lầu hai của đài phát thanh, vài cán bộ mặc quần tây áo trắng ra cửa sổ, vừa nhìn nhìn lấp ló xuống đám đông ở dưới đường, vừa áp tai vào cái radio nhỏ, không biết nghe đài gì vì họ đang ở đài phát thanh mà!
Đối với Tuyết Hương và dân Hà Nội, Sài Gòn chỉ là một cái tên cô nghe vài lần, lạ hoắc, ở đâu đó trong miền Nam xa xôi, nơi mà cô biết được qua báo chí và truyền thông là người dân Việt đang sống rất nghèo khó, cơ cực dưới ách thống trị và kìm kẹp của một lớp thực dân mới, Mỹ và chính quyền Việt Nam Cộng Hoà, không khác gì hơn lớp thực dân Pháp ngày xưa. Tuy nhiên, nó có lẽ rất khác xa với những gì người Hà Nội được biết vì chỉ mới vài tháng trước đây, một số cán bộ công tác ở miền Trung trở về đã to nhỏ, bí mật cho biết đời sống và thành phố ở bên kia giới tuyến rất khác biệt với những gì họ đã nghe. Như thường lệ, một lời nói không đúng chỗ tương đương với một bản án phản động, và đồng nghĩa với lao tù ở rừng núi Việt Bắc, nên câu chuyện chấm dứt ngay tại đó. Tuyết Hương cố mường tượng ra những gì sắp xảy đến cho mình và gia đình mình nhưng chẳng nghĩ ra một cái gì. Tương lai và hòa bình là những cái gì xa vời mà cô ít khi nghĩ tới vì cũng chẳng biết chúng nó là cái gì.
Miên man nghĩ ngợi, Tuyết Hương đạp xe ngang qua phố Hàng Buồm. Dân chúng truyền miệng, bắt đầu đổ nhau ra đường, đi về phía hồ Hoàn Kiếm, nơi xa xa, bắt đầu có những tiếng pháo nổ lẹt đẹt. Trước một tiệm sách, người ta bắt đầu chen lấn, giành giật nhau để mua cho được tấm bản đồ hình màu của Sài Gòn, lấy được từ những thành phố ở miền Trung mới đổi chủ. Tuyết Hương cắm cổ đạp xe ngược dòng người về nhà báo cho mẹ. Tự nhiên lòng cô dâng lên một niềm hân hoan khó tả.
Biên Hòa, Việt Nam
Mạnh thất thểu, lệt bệt đi bộ dọc theo đường quốc lộ số 1 về Sài Gòn sau khi ra khỏi phi trường Biên Hòa. Đường lộ vắng ngắt, la liệt quần áo, ba lô, giày sô, súng đạn của đủ binh chủng lính Việt Nam Cộng Hoà. Đây đó vài chiếc chiến xa và xe jeep nằm cháy đen, sườn thép co quắp. Mùi vỏ xe và xăng cháy khét lẹt không gian. Mùi quen thuộc sau một trận chiến. Thỉnh thoảng bên đường, một xác người nằm trên vũng máu khô, dưới làn poncho che phủ vội vã, lòi đôi chân mang giày sô.
Mạnh mặc áo sơ mi, quần tây cũ mà một người lính tốt bụng trong phi trường cho anh sau khi nghe lệnh đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh, một người mới nhậm chức chỉ có vài giờ từ tổng thống Trần Văn Hương. Anh vơ đại đôi dép da cũ của ai vứt ngoài hành lang phòng họp. Cả hai thay vội vã và chạy ra khỏi phí trường cùng với hàng trăm quân nhân khác. Họ chọn cái cổng nhỏ bên hông phi trường, nơi có một con lộ đất dẫn vào một tiền đồn địa phương quân. Đồn vắng ngắt. Chẳng thấy một quân nhân nào và cũng chẳng thấy một bóng dáng người bộ đội nào. Cứ thế họ đi qua và ra khỏi đồn, len lỏi xuống phố chợ. Đi lanh quanh một lúc anh trở ra quốc lộ số 1, hy vọng đón được chiếc xe ôm nào đó về Sài Gòn, chỉ cách khoảng 30 cây số. Mạnh cúi đầu đi, vừa đi vừa suy nghĩ mông lung về những gì xảy ra liên tiếp trong mười ngày qua mà tưởng như mới hôm qua.
Sau vài ngày theo chân Lữ đoàn Dù đẩy lui Việt cộng ra khỏi những thị xã và đồn điền cao su kế Xuân Lộc và nghe hai trái bom kỳ lạ được thả, chiến trường bỗng nhiên trở nên yên lặng một cách lạ lạ lùng. Họ có thể nghe những tiếng chiến xa lùi xa dần rồi im hẳn. Hai ngày sau đó là những ngày dài lê thê, chập chờn, nằm chờ quân địch tấn công. Bất ngờ một buổi sáng, tất cả được lệnh bỏ Long Khánh, rút về để bảo vệ Sài Gòn! Mọi người đều sững sờ. Chẳng ai hiểu được tại sao khi mình đang thắng thế lại rút về. Nhưng lệnh là lệnh. Mạnh đi theo chân một tiểu đoàn Biệt Động Quân đi băng rừng, băng suối suốt đêm hôm ấy. Sáng hôm sau về đến tòa hành chính tỉnh Phước Tuy, một thị xã nhỏ bé, hiển hòa vẫn còn quân đội Việt Nam Cộng Hoà trấn dữ. Mạnh mệt lả. Anh ngồi dựa lưng vào những bao cát của một lô cốt phòng thủ trước thềm tòa thị chính và ngủ thiếp đi. Tiếng ai đó ồn ào làm anh chợt tỉnh giấc. Anh nghe lõm bõm tổng thống Nguyễn Văn Thiệu vừa từ chức, giao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương, một vị phó tổng thống già nua, không quyền hành.
Trời đã tối hẳn. Sau khi ăn vội vài miếng cơm, Mạnh tiếp tục theo chân tiểu đoàn đi thêm một ngày nữa để về căn cứ tồn kho Long Bình. Từ đây, anh quá giang một chuyến xe tải đạn về phi trường Biên Hòa, nơi đơn vị anh đóng quân. Mạnh được đồng đội anh đón mừng như một vị anh hùng trở về từ cõi chết. Riêng anh, anh chẳng cảm thấy mình là người hùng chút nào. Anh chỉ cảm thấy mình được biết thêm chiến tranh, nhìn ở một góc độ khác, hoàn toàn không giống như cái nhìn từ buồng lái trực thăng của anh.
"Nhà chú ở đâu?", một bà lão người Nam nãy giờ quẩy gánh đi đằng sau hỏi vọng lên, cắt ngang dòng suy nghĩ của Mạnh. Anh quay lại, mồ hôi nhễ nhại,
"Dạ, cháu ở Sài Gòn" Mạnh vừa trả lời, vừa vuốt mồ hôi, chân vẫn rảo bước. Một lúc sau, anh ngoái cổ hỏi lại,
"Nhà bác ở đâu sao không về đi? Đi ngoài đường lúc này nguy hiểm lắm".
"Tui đâu có sợ tụi nó, cậu!", giọng bà đanh thép, bất chấp.
"Trời ơi, Sài Gòn xa lắm, đi bộ đến bao giờ mới về. Cậu đói không? Ghé vào nhà tui ăn miếng cơm rồi đi tiếp?"
Trong giây phút thấp nhất của cuộc đời, một tấm chân tình của một người bán hàng rong làm cho Mạnh ấm lòng và cảm thấy cuộc chiến và sự hy sinh của anh và đồng đội vẫn còn có ý nghĩa. Ngay lúc đó, một đoàn xe quân xa, chở đầy bộ đội trong tư thế chiến đấu bất chợt xuất hiện, chạy ào ạt về hướng thành phố. Bụi đỏ bay mù mịt. Mạnh dừng lại, quay đầu, vừa nheo mắt tránh bụi, vừa nói to, cố át tiếng xe,
"Cảm ơn bác, cháu không đói. Bác về đi." rồi rảo bước đi nhanh. Sau làn bụi đỏ mờ, bóng bà lão và đôi đòn gánh dần xa hút. Mạnh cúi đầu lẳng lặng đi tiếp.
Sài Gòn, Việt Nam
Lương Châu đứng xen lẫn với những người dân thành phố mặt mày lo lắng, sợ hãi, đứng khép trên lề đường Lê Văn Duyệt, trước cửa sau cư xá Bắc Hải. Đây là một khu cư xá khang trang có nhiều gia đình tướng lãnh và sĩ quan cư ngụ. Có lẽ vì thế, nó còn nổi tiếng bởi có rất nhiều thiếu nữ, tiểu thư khuê các, đẹp nổi tiếng ở Sài Gòn ở trong ấy. Giá đình Lương Châu dọn về đấy sống từ mười mấy năm nay, khi bố cô được bổ nhiệm vào làm ở bộ chiến tranh chính trị ở bộ Tổng Tham Mưu.
Súng và đạn pháo nổ suốt đêm hôm qua nhưng đã ngừng hẳn từ sáng hôm nay sau khi lệnh đầu hàng được loan tin ra từ đài truyền thanh Sài Gòn. Sau đó không lâu, từng đoàn xe tăng T 54 và xe nhà binh Molotova, đầy bụi đỏ, cây lá ngụy trang phủ đầy, ầm ầm tiến vào trung tâm thành phố. Tiếng xích nặng, kẽo kẹt, nghiến nát đường nhựa làm rung chuyển những cửa hàng, đóng cửa im lìm, nằm dọc theo con đường phố nhỏ hẹp, nay càng nhỏ hẹp hơn với những chiếc chiến xa khổng lồ. Đoàn xe lúc chạy, lúc dừng, rồ máy từng cơn, xịt khói đen mù mịt, khét lẹt đầy mùi xăng dầu. Đường phố vắng xe cộ vì lệnh thiết quân luật đã ban hành từ hai ngày trước. Chỉ có những người dân lái xe gắn máy chạy hối hả xa xa. Dọc bên đường, người ta ngừng xe gắn máy, khép sát bên lề đường, nhường chỗ cho đoàn quân xa, và ngơ ngác, sợ hãi nhìn những chiến binh Cộng Sản lạ lùng ngồi la liệt trên đó. Họ trẻ măng, nhỏ bé, ốm nhom, mặc đồ bộ đội màu xanh lá cây, rộng thùng thình, đầu đội nón cối, chân đi dép râu làm từ vỏ xe hơi. Tất cả đều im lặng, chẳng nói một lời nào. Họ cũng ngơ ngác, tò mò nhìn dân thành phố, chỉ khác một điều là không có sự sợ hãi! Một sự giao tiếp im lặng một cách lạ lùng của hai thế hệ người Việt.
Những người lính hết nhìn những người bên đường, lại nhìn lên những nhà lầu, những cửa hàng xây san sát nhau ở mặt đường với những bảng hiệu đủ màu, đủ kiểu, gần như bị che khuất bởi những hàng dây điện căng ngang dọc, chằng chịt. Chỉ vài ba tháng nay, cuộc đời của họ đã thay đổi nhanh hơn cả một cuộc chiến tranh dài hơn hai mươi năm. Họ sinh ra và lớn lên từ những làng quê, thôn xã nhỏ bé, nghèo khổ. Nơi có một cái cây đa ở cổng làng bên lũy tre xanh, một đồn công an, một văn phòng ủy ban huyện xã mà nhân viên là những đảng viên cộng sản, một chiếc loa to ông ổng suốt ngày, vài túp nhà tranh của hợp tác xã nơi tất cả sự mua bán trong làng xã như ngũ cốc, hoa quả, gia súc, đều phải được báo cáo, giao về đây, và phân chia. Thế giới bên ngoài được biết đến qua chiếc loa và vài tờ báo không tốn tiền mua của nhà nước.
Đặc biệt năm nay, ở tuổi mười lăm, sớm hơn năm ngoái một năm, họ đã nhận được giấy gia nhập bộ đội lên đường vào Nam. Họ được cho biết nhà nước cần nhiều quân đội hơn mọi năm để tiếp thu và quản trị các thành phố mới được giải phóng ở trong Nam. Đã mấy chục năm nay, chưa thấy ai ra đi mà trở về. Sinh Bắc tử Nam là câu nói họ lén lút truyền miệng với nhau, nghe được từ phía bên kia giới tuyến như một lời hăm dọa. Ở cái xã hội này, trốn lính là chuyện không tưởng. Trẻ con được dạy dỗ từ thuở còn thơ để báo cáo cho nhà trường biết những gì xảy ra trong gia đình và hàng xóm khi có những gì có vẻ khác lạ hơn những gì chúng học ở trường hoặc nghe ở loa phóng thanh. Không một tấc đất dung thân là câu thành ngữ người dân biết nằm lòng.
Sau khi từ giã gia đình, hầu như chỉ còn mỗi bà mẹ già, họ được di chuyển vào Nam, đi ngày đêm bằng đường mòn Hồ Chí Minh qua Lào. Vừa đi vừa học tập quân sự và tập bắn với súng không có đạn. Đi hết nước Lào, họ vẫn chưa thấy vào những thành phố mới chiếm được ở miền Trung. Hỏi cấp chỉ huy thì họ cho biết mới chiếm được trái thêm mấy tỉnh mới ở miền Nam nên đi tiếp. Thế là lại tiếp tục băng rừng, ban đêm đi xe, ban ngày đi bộ qua Campuchia. Một tuần lễ sau, họ được bổ sung vào sư đoàn 341 và tham chiến mặt trận Xuân Lộc. Một tuần lễ sau đó là một địa ngục trên trần gian. Chỉ có máu, lửa, và bụi đỏ. Trong những trận tấn công biển người, họ là những chiến binh bị bắt chạy hàng đầu. Lần đầu tiên đối đầu với sự sống chết và sự tàn bạo của chiến tranh, họ trở thành những con thú vật tìm sự sống trong cái chết. Họ trưởng thành rất nhanh. Sau một tuần lễ đánh chiếm thị xã Bảo Định, họ thối lui khi lữ đoàn Dù nhảy vào. Cả một tiểu đoàn vài trăm bây giờ chỉ còn vài chục. Sau hai quả bom đặc biệt được thả xuống mà họ chỉ nghe đồn là mất cả ngàn chiến binh, họ được lệnh bỏ Xuân Lộc, đi về hướng Tây để sát nhập với sư đoàn 7 vào Sài Gòn bằng ngã khác. Ngạc nhiên thay, sau những trận đánh lẻ tẻ, giờ đây, họ đang ngồi trên những chiến xa giữa lòng Sài Gòn. Một điều họ chưa từng bao giờ ước mơ đến.
Lương Châu thẫn thờ đi bộ về nhà, lòng tan nát. Chưa bao giờ cô cảm thấy cô đơn như ngày hôm nay. Tất cả những giấc mơ đẹp đẽ nhất của một người con gái tan biến trong chớp mắt. Đầu óc cô vẫn quay cuồng với hình ảnh của đoàn chiến xa vào thành phố. Lần đầu tiên trong đời, cô không biết tương lai của mình sẽ đi về đâu. Họ sẽ làm gì với kẻ thua cuộc? Họ sẽ trả thù như thế nào? Mình có còn được đi học hay không? Mình sẽ phải đi nông trường ở đâu? Lương Châu chợt nhớ tới bố mình. Ông đã không về nhà đón mấy mẹ con di tản như đã nói và gia đình cô cũng không biết giờ này ông đang ở đâu. Biết tính bố, Lương Châu không bao giờ có một ý nghĩ, dù chỉ là thoáng qua rằng ông đã đi tản ra nước ngoài với gia đình người vợ bé. Lương Châu đẩy cửa vào nhà. Mẹ Lương Châu mắt đỏ hoe ngồi ở phòng khách cùng với các em của cô. Bà ngước mắt nhìn Lương Châu như hỏi thẩm,
"Bây giờ mình phải làm gì?"
Lương Châu lặng lẽ ngồi xuống bên mẹ, kéo tay mẹ để trên đùi của mình và xoa nhẹ. Cô nhìn xuống đôi tay xanh gầy, trắng muốt của mẹ và của mình rồi lắc đầu nhè nhẹ. Từng giọt nước mắt của cô bắt đầu rơi lã chã trên đôi tay trong tiếng nấc sụt sùi.
Sydney, Úc Đại Lợi
Phi ngồi dán mắt vào chiếc máy truyền hình ở phòng sinh hoạt học sinh gần nhà ăn lớn ở viện đại học NSW ở Sydney và Úc Đại Lợi. Anh và nhóm học sinh du học Việt Nam của hội VOSA mới đi họp về và cả nhóm quyết định kéo nhau ra đây để nghe tin tức mới nhất của Việt Nam từ đài truyền hình Sydney. Vô Gia, không nhà không cửa, một cách gọi đùa của hội VOSA .
Hình ảnh chiếc xe tăng T 54 ủi sập cổng sắt dinh Độc Lập để chạy thẳng đến bậc thang của đại sảnh và những lính bộ đội người Bắc cầm cờ đỏ xanh, sao vàng mặt trận giải phóng miền Nam chạy lúp xúp vào đại sảnh được chiếu đi chiếu lại nhiều lần trên khắp các băng tần truyền hình như là một màn cuối của một vở kịch lịch sử, đánh dấu sự cáo chung của chế độ Việt Nam Cộng Hoà sau hai mươi năm chống đỡ làn sóng đỏ.
"Việt cộng nó vào Sài Gòn rồi, nó chiếm dinh Độc Lập rồi.. ", một sinh viên quay lại nói lớn cho một nhóm sinh viên Việt Nam khác đang hớt hải chạy vào, mặt mày xớn xác, thở hổn hển, lo âu. Phi nhìn quanh. Tất cả đều im lặng, nhìn nhau, sửng sốt và bàng hoàng. Trong cái khoảng khắc ngắn ngủi đó, tất cả, lần đầu tiên, cảm nhận được cái cảm giác hụt hẫng, cái cảm giác của những người lạc lõng, tha hương, không tổ quốc. Một nữ sinh viên úp mặt vào tay, gục đầu khóc sụt sùi. Vài người bạn ngồi xích lại, nắm lấy tay cô, nhưng cũng không biết nói gì vì chính họ cũng đang cầm chịu một số phận.
Cả tuần nay, Phi chẳng liên lạc được gì với gia đình. Điện thoại lúc có lúc không. Nếu được thì chẳng ai bắt ở đầu dây bên kia. Anh không biết gia đình anh đã rời Việt Nam, hay vẫn còn ở Sài Gòn, hay đã chạy xuống miền Tây, nơi có tin đồn đó là phòng tuyến cuối cùng của miền Nam để đi đến một thỏa hiệp mới chia cắt. Tuy nhiên, Phi cũng tự an ủi là mình còn mấy mắn hơn một vài bạn học khác, quê ở miền Trung, vì họ đã mất tin tức gia đình từ cả hơn ba tháng nay.
Qua lời kêu gọi của hội, anh cũng đã tham gia những buổi họp báo, dâng thỉnh nguyện lên chính phủ Úc, xin họ mở cửa cho nhập cư những thân nhân của sinh viên được tị nạn chính trị trước tình hình bi đát hiện nay. Anh đã cẩn thận điền tên mỗi người trong gia đình và mất rất nhiều thì giờ để viện ra những lý do mà trong thâm tâm, anh nghĩ rất mơ hồ về sự có thể trả thù nếu Bắc Việt chiếm miền Nam với một gia đình không dính dáng gì đến chính trị và đoàn thể của anh. Tuy nhiên, anh vẫn làm như bao nhiêu bạn bè khác, mặc dù hy vọng rất mong manh. Nhưng anh và các bạn chỉ nhận được một sự im lặng mặc dù hai năm trước đó, chính phủ Úc đã hoàn toàn bãi bỏ chính sách nước Úc của người Úc da trắng. Đảng Lao Động của thủ tướng Whitlam đang lao đao về những tin tức không tốt về chuyện tài chính lem nhem. Hơi đâu mà họ lo cho những chuyện cỏn con của người tị nạn, Phi nghĩ thầm.
Đã hơn một tháng kể từ ngày "mất nước", một từ ngữ mà anh và các bạn sinh viên Việt Nam cố tình dùng hằng ngày để nói chuyện với nhau và trao đổi với trường đại học và chính phủ như một thông điệp rõ ràng là họ không phải là những sinh viên của Việt Nam sau khi miền Nam được "giải phóng" hay "thống nhất" như chính phủ Hà Nội tuyên bố với thế giới. Phi còn nhớ những ngày đầu tiên đến Úc. Anh được tiếp đón và gặp mặt ông Graham Alliband, một nhà ngoại giao Úc và được nhắc nhở là các anh hãy trở về Việt Nam sau khi tốt nghiệp và trở thành những người xây những cây cầu nối giữa nước Úc và nước Việt Nam. Sau đó không lâu sau, quân đội Úc rút ra khỏi Việt Nam và thiết lập bang giao với Hà Nội. Điều này làm cho anh và những người bạn du học Việt Nam trong hội VOSA rất bức tức và viết thư phản đối lên chính phủ, nhưng họ cũng lờ đi.
"Hôm nay có cuộc họp ở quốc hội. Tôi nghiên cứu kỹ rồi. Mình cứ nhào vô biểu tình, xin tị nạn chính trị", anh hội trưởng hội VOSA, một người tương đối lớn tuổi nhất, nghiêm nghị với cặp kính cận dày cộm nói với mấy chục sinh viên đang tụ họp ở những bậc thềm trước cửa thư viện.
Một số nhìn nhau, lưỡng lự, "Trường đã đồng ý gia hạn Visa và trợ cấp tạm thời cho mình rồi, nếu mình làm quá có thể bị trục xuất về nước không? ". Một sinh viên trẻ hỏi, giọng lơ lắng, ngập ngừng. Vài người tàn thành và nhìn anh hội trưởng, chờ đợi.
"Tôi thì tôi nghĩ ngược lại". Phi bước ra, nói nhỏ, giọng thân thiện.
"Nếu mình vẫn tiếp tục yên lặng, mình sẽ để cho họ định đoạt số phận của mình. Mình nên nói rõ cho họ biết nguyện vọng của mình. Không những cho chính phủ Úc, mà cho cả toàn thể thế giới nữa. Báo chí sẽ giúp mình…"
Phi ngừng nói, nhìn quanh, ánh mắt mệt mỏi nhưng cương quyết. Cả nhóm lao nhao bàn cãi. Anh hội trưởng nhìn Phi như cảm ơn. Sau vài phút, mọi người đồng ý làm và chụm nhau lại bàn chuyện chi tiết. Ngày hôm sau, trên trang nhất của báo The Daily Telegraph, một tờ báo lớn nhất nước Úc chạy hàng tin lớn "Sinh viên du học Việt Nam xông vào giữa buổi họp ở Quốc hội, xin tị nạn chính trị". Sáu tháng sau, Phi và các bạn anh nhận được tin từ chính phủ mới của ông Malcolm Fraser, đảng Tự Do, chính thức cho tất cả các sinh viên Việt Nam được ở lại Úc tị nạn chính trị và tiếp tục học.
Frank Thanh Nguyễn
2023
Comments
Post a Comment